Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Cảnh giác với “dân chủ” mạng
Tự do internet không có nghĩa tuyệt đối. Không phải ai thích viết gì, nói gì, muốn xâm phạm cá nhân, tổ chức nào trên internet cũng được. Ngày nay, với sự bùng nổ internet, các quốc gia căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể để đề ra các quy định quản lý phù hợp. Điểm mấu chốt là dù quản lý theo phương thức nào thì cũng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cá nhân, tổ chức, tránh các hành vi lạm dụng phạm pháp. 
Tại những nước phát triển như Hàn Quốc, người dùng phải cung cấp tên thật trên tất cả các nội dung bình luận, entry trên mạng. Đây là quy định chặt chẽ hơn so với nhiều nước khi phần lớn không bắt buộc phải nêu rõ tên thật khi chat, bình luận. Tại Singapore, nhằm thắt chặt an ninh, tất cả các máy tính được sử dụng bởi công chức Singapore sẽ bị cắt mạng internet từ tháng 5-2017. Còn tại Anh, tháng 8-2011, Thủ tướng Anh Cameron đã tuyên bố trước phiên họp của Quốc hội: “Chính phủ sẽ trừng trị nghiêm khắc những phần tử sử dụng các trang mạng xã hội và phương tiện truyền thông xã hội để âm mưu gây bạo loạn và bất ổn xã hội”. 
Tại “thiên đường tự do” Mỹ thì sao? Điều 2385, Chương 115, Bộ luật Hình sự Mỹ ghi: “Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá và mọi hình thức vận động, xúi giục lật đổ, tiêu diệt chính quyền bất kỳ cấp nào”. Và thực tế, chính ở Mỹ mới là nơi có nhiều trường hợp bị xử lý vì người sử dụng mạng internet có hành vi xúc phạm, lăng mạ người khác. Đầu tháng 9 vừa qua, báo chí tại Mỹ thông tin, tờ The Huffington Post đã đuổi việc một phóng viên vì người này đã viết bài bịa đặt về tình hình sức khỏe của ứng viên nữ Tổng thống Mỹ - bà Hillary Clinton. 
Tháng 12-2016, nhằm ngăn chặn thông tin bịa đặt, cực đoan, Chính phủ CHLB Đức đưa ra yêu cầu các hãng cung cấp dịch vụ mạng xã hội thành lập văn phòng phản ứng ngay trong vòng 24h khi có phản ánh về phát ngôn cực đoan hoặc thông tin bịa đặt, và sẽ phạt các công ty này nếu không chấp hành, mức phạt là 500.000 Euro cho mỗi lần không thực hiện.
Rõ ràng, với hành động lợi dụng internet để xúc phạm người khác, nguy hại hơn là xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá đất nước thì không có quốc gia nào dung túng. Việt Nam đưa ra các quy định pháp luật để quản lý mạng internet là phù hợp luật pháp quốc tế và thực tiễn chung của các quốc gia trên thế giới.
Điều 25, Bộ luật dân sự 2005 quy định khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai, yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, Bộ luật Hình sự cũng quy định rõ các điều luật về “tội vu khống”, “tội lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”... để xử lý các hành vi phạm tội. 
Ai cũng có quyền tiếp cận thông tin, nhưng mỗi người hãy tự biết cách bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, bịa đặt, độc hại. Quyền tự do thể hiện quan điểm, chính kiến nhưng quyền ấy là có ranh giới, cần tỉnh táo nhận diện để không bị rơi vào sự hỗn độn thông tin, không bị kẻ xấu hướng lái, lôi kéo, biến mình thành nhà “dân chủ mạng”, trở thành con rối của kẻ địch, sử dụng mạng internet thành công cụ xâm hại cá nhân, tổ chức, xâm hại quốc gia, dân tộc mà mình là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ, gìn giữ. 
Cần đặc biệt cảnh giác với các thông tin bịa đặt, độc hại trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động hòng chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và phải nghiêm trị hành vi sử dụng mạng internet phá hoại nội bộ, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước.


Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

ĐẰNG SAU CÁC LUẬN ĐIỆU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI”
Chưa bao giờ các thế lực thù địch từ bỏ âm mưu chuyển hóa về chính trị đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay, trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tập trung chống phá quân đội trên nhiều mặt, nhiều nội dung, trong đó chống phá về chính trị được đặt lên trước và là một nội dung trọng tâm, trọng điểm. Trong những năm gần đây, chúng sử dụng truyền thông, mạng xã hội như một công cụ để chống phá quân đội về chính trị, tư tưởng. Hàng loạt các trang thông tin, trang web phản động đã lợi dụng chính sách tự do báo chí của Việt Nam, đưa ra các bài viết, bài phân tích, tuyên truyền, cổ súy cho việc chuyển giao quân đội về nhà nước, để nhà nước quản lý quân đội. Thực chất của quan điểm này là nhằm tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chúng công khai rao giảng cái gọi là “quân đội của quốc gia”, “quân đội mang tính dân tộc” bằng lối triết tự theo cách ngụy biện rằng, tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam đã xác lập danh tính quân đội là của quốc gia Việt Nam. Thực chất của quan điểm này là phủ định nguyên lý và làm “lu mờ” bản chất giai cấp của quân đội, xóa bỏ bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta.
Điều đó, hoàn toàn trái ngược với lịch sử hình thành, phát triển của quân đội trên thế giới và ở Việt Nam. Bởi lẽ, quân đội là một hiện tượng lịch sử, ra đời trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người, khi mà xã hội loài người xuất hiện chế độ tư hữu và phân chia thành giai cấp. Nó sẽ mất đi khi chế độ chiếm hữu tư nhân, sự đối kháng về giai cấp và sự tồn tại của nhà nước không còn. Quân đội là công cụ bạo lực của một giai cấp nhằm phục vụ mục tiêu chính trị của giai cấp đó. Vì thế, quân đội luôn mang bản chất giai cấp của giai cấp tổ chức và lãnh đạo nó, không có quân đội “phi giai cấp”.
Ở Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo, mang bản chất giai cấp của Đảng - bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp của quân đội ta được xác lập ngay từ khi Đảng tổ chức ra quân đội và định hình, phát triển, phát huy trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo quân đội, thể hiện ở việc xác lập hệ tư tưởng, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội. Hệ tư tưởng của quân đội ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt quá trình lãnh đạo quân đội, Đảng ra sức truyền bá hệ tư tưởng, xây dựng mục tiêu lý tưởng chiến đấu cho quân đội, nhờ đó mà quân đội ta trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; luôn luôn là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc. Bản chất giai cấp công nhân quy định tính tiên tiến, cách mạng của quân đội, xác lập mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội và là cội nguồn để quân đội ta tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Nhờ mang bản chất giai cấp công nhân mà tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta được xây dựng, phát triển đúng hướng, được phát huy trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành và là một nguồn lực tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta trong chiến tranh giải phóng cũng như trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Trên mạng xã hội cũng lan truyền, tung hô cái gọi là “Quân đội nhà nghề”.  Ẩn ý đằng sau cổ súy cho quan điểm xây dựng quân đội nhà nghề là mong muốn của các thế lực thù địch về một quân đội “đứng ngoài chính trị”, “quân đội trung lập”. Thực tế lịch sử đã cho thấy, quân đội ra đời gắn với sự ra đời của nhà nước, không thể có việc quân đội “đứng ngoài chính trị”, “quân đội trung lập”. Về vấn đề này, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản”1. Không có và chưa bao giờ có một thứ quân đội “đứng ngoài chính trị”, bởi vì nó là sản phẩm của “đấu tranh giai cấp không thể điều hòa”, là công cụ vũ trang trong tay nhà nước để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước. Không có thứ quân đội “đứng ngoài chính trị” đồng nghĩa với việc không có thứ “quân đội trung lập”.
Sự ra đời và quá trình trưởng thành, chiến đấu của quân đội luôn luôn gắn với chính trị của giai cấp, gắn liền với nhà nước đã tổ chức và lãnh đạo nó. Quân đội luôn luôn được xây dựng theo hệ tư tưởng và chiến đấu theo mục tiêu lý tưởng của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó. Hệ tư tưởng của giai cấp tổ chức và lãnh đạo quân đội luôn giữ vai trò thống trị trong đời sống chính trị, tinh thần của quân đội. Mục tiêu, lý tưởng của giai cấp tổ chức và lãnh đạo quân đội quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội.
Ý đồ thâm độc của quan điểm “quân đội nhà nghề” là muốn tước bỏ hệ tư tưởng Mác - Lênin, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của quân đội ta. Thực chất luận điệu “quân đội nhà nghề” là sự phủ định bản chất giai cấp của quân đội, xóa mờ bản chất giai cấp công nhân, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì chủ nghĩa xã hội của quân đội ta. Cần nhận thức rõ rằng, việc cổ súy cho xây dựng “quân đội nhà nghề” là nhằm tạo ra “vỏ bọc” cho việc chuyển hướng xây dựng quân đội mang bản chất giai cấp công nhân sang quân đội mang bản chất giai cấp tư sản. Các thế lực thù địch mượn cớ xây dựng “quân đội nhà nghề” để làm chuyển hóa tính chất chính trị - xã hội của quân đội ta.
Rõ ràng, ở đây không chỉ có sự khác biệt về câu chữ mà là về thực chất của vấn đề giữa xây dựng “quân đội nhà nghề” với việc xác định phục vụ trong quân đội là “một nghề” của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của quân đội ta xác định hoạt động quân sự là một nghề, ngành nghề đặc biệt liên quan đến sự tồn vong của Tổ quốc, của chế độ xã hội, từ đó mà yên tâm phục vụ trong quân đội đến hết tuổi theo luật định.
Xâu chuỗi các luận điệu của các thế lực thù địch trên mạng xã hội cho thấy tính chất phi lý, ngụy biện nhưng vô cùng hiểm độc. Các thế lực thù địch không trực tiếp bàn về vấn đề lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, về bản chất giai cấp công nhân của quân đội, về việc quân đội đứng ngoài chính trị, quân đội trung lập... mà mượn cớ “bàn về đổi mới xây dựng quân đội”, “nghiên cứu học tập mô hình xây dựng quân đội hiện đại” để tạo dựng dư luận xã hội, dư luận quân nhân về những vấn đề cốt lõi trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Chúng mong muốn rằng, dư luận xã hội, dư luận quân nhân về các vấn đề đó ngày một dâng cao, tạo áp lực xã hội để thay đổi cách thức lãnh đạo, phương thức xây dựng quân đội. Chúng cũng mong muốn rằng, với nội dung, cách thức tuyên truyền “mập mờ trắng đen”, như là những “làn gió thổi qua” sẽ hằng ngày hằng giờ lay động nhận thức, thái độ, niềm tin, tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội.
Mặc dù, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mạng xã hội để cổ súy nhiều luận điệu sai trái, phản động, các luận điệu đó được “ngụy trang” vô cùng khéo léo nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta, làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Song có một thực tiễn mà không một thế lực nào có thể phủ nhận được là, trước yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng ta đã thành lập quân đội, lãnh đạo quân đội. Chính sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong hơn 70 năm qua là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội. Trong thể chế chính trị ở nước ta hiện nay, Đảng giữ vai trò lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội được xác định trong Hiến pháp, pháp luật và được hiện thực hóa trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội ta là tất yếu, bất biến, được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật.



1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr. 136.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

TRÂN TRỌNG VÀ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA TỔ QUỐC
                                                                            
Là một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải đấu tranh chống lại sự xâm lược của các thế lực hùng mạnh. Các thế hệ người Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành và giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đó là sự hy sinh tự nguyện cho một mục tiêu chân chính, một lý tưởng cao đẹp; là hành động ái quốc của một dân tộc anh hùng - một biểu tượng ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Trong đêm trường nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước vẫn liên tục nổ ra nhưng đều bị dìm trong biển máu và thất bại. Đến những năm đầu của thế kỷ XX, với khát vọng cháy bỏng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[1], Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm ra con đường cứu nước. Và khi thời cơ thuận lợi đã tới “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Khát vọng và ý chí quyết giành độc lập, tự do của toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người tự do. Thay mặt toàn thể đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2].
Thế nhưng, nền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân vừa mới giành được lại đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài cấu kết với nhau nhằm bóp chết chính quyền còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”[3]. Lời kêu gọi đã động viên toàn dân tộc ta đứng lên chống thực dân Pháp. Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, toàn dân tộc tộc đã đứng lên đánh bại đế quốc, thực dân, làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc.
Nhưng ngay sau đó đế quốc Mĩ lại kế chân xâm lược nước ta, chúng không cho dân tộc ta được sống trong hoà bình, độc lập, tự do. Sau 20 năm chiến đấu ròng rã, hàng chục triệu người đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hiên ngang “Nhằm thẳng quân thù - bắn!” đã đánh bại tên đế quốc giàu mạnh nhất hành tinh. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân, nhưng xét đến cùng, nguyên nhân sâu xa, đó là ý chí quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ để bảo vệ vững chắc quyền độc lập, tự do của Tổ quốc. Khi phân tích nguyên nhân thất bại của Mĩ tại Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kì Mắc Na-ma-ra nêu lên 11 nguyên nhân chính khiến nước Mĩ thảm bại, trong đó có nguyên nhân từ phía giới lãnh đạo nước Mĩ: “Đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc đã thúc đầy một dân tộc giàu lòng yêu nước đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó, chúng tôi thiếu sự hiểu biết cơ bản về lịch sử, văn hoá, chính trị của Việt Nam”[4].
Một dân tộc đã gan góc đấu tranh, triệu người như một, đồng tâm, hiệp lực chiến đấu kiên cường đánh bại mọi mọi âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội. Hàng vạn người con ưu tú của dân tộc ta đã ngã xuống trên chiến trường hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời, hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó.
Trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của độc lập, tự do, hiện nay đại bộ thanh thiếu niên đã và đang tích cực học tập, lao động, công tác góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhưng vẫn còn một bộ phận sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; xem nhẹ truyền thống, coi thường đạo lý, phủ nhận quá khứ. Thậm chí, có người còn lên tiếng ủng hộ các luận điệu xuyên tạc, phản động cho rằng, các cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta trong thế kỷ XX là “cuộc chiến tranh phi nghĩa”, là “sự hy sinh xương máu một cách vô ích”; cá biệt một số người còn bị kích động, lôi kéo tham gia các hoạt động trái pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia dân tộc.
Vì vậy, để thế hệ trẻ có nhận thức đầy đủ về giá trị của độc lập, tự do; thấu hiểu những hy sinh mất mát to lớn của các thế hệ cha anh trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung giáo dục lịch sử dân tộc; truyền thống văn hóa của dân tộc, của Đảng; những anh hùng, liệt sĩ; những tấm gương yêu nước tiêu biểu và tuyên truyền âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta trong tình hình mới.
 Để làm được điều đó, cần tích cực hóa quá trình dạy học môn lịch sử bằng cách tái hiện một cách sinh động, có hồn những sự kiện lịch sử quan trọng. Kết hợp nhiều kênh thông tin cung cấp kiến thức lịch sử, truyền thống nhất là sách, báo, tranh ảnh, tư liệu, phim, nhạc… kích thích sự hứng thú, say mê tìm tòi, nghiên cứu về lịch sử. Sử dụng phổ biến các hình thức: tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề, diễn đàn, thi tìm hiểu, tuyên truyền, biểu dương người tốt, việc tốt trong học tập, lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, ý chí kiên cường, dũng cảm; khơi dậy ước mơ, hoài  bão lớn trong mỗi người.
Chú trọng phát huy giá trị của những chứng tích lịch sử; tăng cường các hoạt động tham quan các di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng; tổ chức giao lưu, nói chuyện truyền thống để thế hệ trẻ tìm hiểu về những người thật, việc thật, nhận rõ cái giá phải trả cho độc lập, tự do của dân tộc, tự hào với truyền thống của các thế hệ cha anh, soi mình vào những tấm gương tiêu biểu trong xã hội; từ đó nhận thấy trách nhiệm của mình với Tổ quốc, với gia đình và xã hội, góp sức mình xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Xây dựng môi trường văn hóa tôn vinh những giá trị truyền thống, lịch sử; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng chuẩn mực đạo đức, tấm gương điển hình với “chống” mọi biểu hiện, hành vi trái với đạo lý, truyền thống dân tộc. Mỗi gia đình, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội cần tiếp tục biểu hiện lòng biết ơn sâu sắc, sự tôn vinh đối với những người đã hy sinh vì nước bằng những việc làm cụ thể, thiết thực để thế hệ trẻ học tập, noi theo.
Đặc biệt, mỗi thanh thiếu niên cần đề cao tinh thần tự học, tự rèn; tích cực tìm hiểu về lịch sử, truyền thống của dân tộc, của quê hương; tham gia tích cực vào các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, chia sẻ giúp đỡ các gia đình có công với nước, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn; sống thủy chung, chí nghĩa, chí tình, không bàng quang, vị kỷ cá nhân; xây dựng thái độ học tập, lao động, công tác đúng đắn; xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện hoàn thiện bản thân; chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Có lẽ, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, dân tộc Việt Nam thấu hiểu sự vô giá của độc lập, tự do. Bởi để có hòa bình, độc lập, tự do, dân tộc ta đã phải đánh đổi bằng tính mạng, xương máu và nước mắt của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam. Thế hệ trẻ hôm nay không có quyền quên và không được phép quên những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cha anh, trái lại phải luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với các thế hệ đi trước; luôn trân trọng, giữ gìn và góp phần giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc; biến truyền thống thành bản lĩnh, ý chí; chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2002, tr.161
[2] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.4
[3] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.480
[4] Robet Mc. Namara, Nxb CTQG, H.1995, tr.3163. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, tập 7 (1940  - 1945) tr.113.

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

Phê phán luận điểm “Muốn thực sự có dân chủ cho người dân và xã hội phát triển phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng”

Trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch rất quan tâm đến việc chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng luôn tìm mọi cách để hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam. Nhưng trên cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm cho người dân được thực sự dân chủ, bảo đảm cho xã hội Việt Nam được từng bước phát triển bền vững, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là cơ sở quan trọng để phê phán, bác bỏ quan điểm của các thế lực thù địch, cơ hội cho rằng, muốn có dân chủ cho người dân và xã hội phát triển thì phải thực hiện đa nguyên, đa đảng.
Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích động, kêu gọi tán dương, cổ súy cho quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, nhất là vào dịp chúng ta tổ chức Đại hội Đảng. Đặc biệt, trong thời gian chúng ta tổ chức cho toàn Đảng, toàn dân góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện rất nhiều “ý kiến đóng góp” yêu cầu xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 1992, “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Họ thường rêu rao rằng, muốn cho người dân thực sự có dân chủ, muốn cho xã hội phát triển thì phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Nghiên cứu chế độ đa đảng ở các nước phương Tây có thể nhận thấy, bề ngoài thì các đảng chính trị có vẻ như được tự do, bình đẳng tranh cử để trở thành đảng cầm quyền, chi phối quốc hội và chính phủ, nhưng thực chất bên trong, cũng chỉ có những đảng lớn được sự ủng hộ của các thế lực tư bản độc quyền mới giành được vai trò chấp chính. Đảng Cộng sản ở các nước tư bản không bao giờ được bình đẳng trong tranh cử.
Thực tiễn ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, nhất là ở Liên Xô trước đây cũng cho thấy, từ khi chấp nhận bỏ Ðiều 6 trong Hiến pháp của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là, Ðảng Cộng sản Liên Xô đã dần dần đánh mất quyền lãnh đạo xã hội. Những sự thỏa hiệp về “dân chủ hóa”, về “công khai hóa” hay “đa nguyên chính trị”, không những không làm cho người dân được dân chủ hơn, không làm cho xã hội phát triển hơn, mà còn là mảnh đất rất màu mỡ cho các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô nhanh chóng sụp đổ.
Một số nước khác tuy có hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng nhưng vẫn thường xuyên xảy ra khủng hoảng chính trị, đảo chính làm cho xã hội bất ổn. Những bất ổn chính trị ở Ucraina hay ở Thái Lan diễn ra trong thời gian gần đây là do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do đảng cầm quyền và đảng đối lập mâu thuẫn với nhau về lợi ích, dẫn đến đảng đối lập đã kích động quần chúng biểu tình, đưa yêu sách lật đổ chính phủ hợp pháp đang điều hành đất nước. Hậu quả là, quyền dân chủ của người dân bị lợi dụng phục vụ cho mục đích riêng của từng đảng; xã hội gặp phải những khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển. Như vậy, rõ ràng là, đâu phải cứ có đa đảng mới có dân chủ, mới bảo đảm cho xã hội phát triển!
Thực chất luận điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là luận điểm mang nặng tính chất mị dân, rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có nhận thức hạn chế, từ đó có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, có thể dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và có thể đi đến mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực chất của luận điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là tìm cách xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, lái nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta sang nền dân chủ tư sản; gây nên những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị - xã hội không ổn định, kinh tế suy giảm, văn hóa xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội ngày càng gia tăng, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Và nếu cứ nghe theo “lời khuyên” của các thế lực thù địch, cơ hội, chiều theo sự đòi hỏi phi lý của những người (hoặc là do thiếu hiểu biết, hoặc là do động cơ không trong sáng) để thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thì điều gì sẽ xẩy ra? Điều chắc chắn có thể khẳng định là, chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ đứng trước nguy cơ bị tan rã, chẳng những người dân không được dân chủ, mà xã hội cũng rơi vào rối loạn, khủng hoảng, đình trệ, không phát triển được.
Thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử cách mạng Việt Nam, sự lựa chọn đúng đắn của chính nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hoàn toàn hợp quy luật, phản ánh những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi trong quá trình vận động của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, khác với tình hình của nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Bằng sự thể nghiệm xương máu trong cuộc đấu tranh cách mạng với bao khó khăn, gian khổ, hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam, mà nhân dân ta đã lựa chọn và thừa nhận, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là bảo đảm cho người dân có dân chủ thực sự, xã hội phát triển tiến bộ.
Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam trong hơn 87 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn xứng đáng với sự lựa chọn, giao phó của lịch sử, sự tin cậy của nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đưa dân tộc ta từ một dân tộc không có độc lập đến một dân tộc độc lập, có tên trên bản đồ thế giới; đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ đến dân chủ, tự do, hạnh phúc. Sau đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc được giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.


Tiếp đó, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành và sửa đổi. Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã lắng nghe, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, tôn trọng các loại ý kiến khác nhau. Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết.../.

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

THƯỜNG XUYÊN TỰ ĐỔI MỚI, TỰ CHỈNH ĐỐN - QUY LUẬT
 TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG TA

Đổi mới là từ bỏ những gì là lệch lạc, lỗi thời hay sai trái để đi đến những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn. Chỉnh đốn Đảng là sắp xếp lại những cái vốn có trước đây và đến nay vẫn đúng nhưng đã bị làm sai lệch để mọi công việc đi vào nền nếp, luôn phát huy tốt tác dụng. Đổi mới, chỉnh đốn không phải để Đảng xa rời bản chất khoa học và cách mạng mà là giữ vững và tăng cường bản chất ấy; khẳng định rõ hơn mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; làm cho Đảng ta mãi mãi là một Đảng cách mạng chân chính, luôn xứng đáng với sự tin yêu, kính trọng, sự tôn vinh của nhân dân. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng cũng đều quan tâm đến vấn đề xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới, làm cho Đảng luôn ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đảng phải nâng tầm cao trí tuệ, bản lĩnh, kiên định về lập trường, tư tưởng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Hiện nay, Đảng ta tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng là sự phù hợp với quy luật tồn tại và phát triển của Đảng trong tình hình mới. Mọi luận xuyên tạc, mọi hành động lợi dụng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng để phủ nhận vai trò của Đảng, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta là hoàn toàn sai trái.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thực hiện chỉ dẫn của Người, trong những năm qua, Đảng luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới, làm cho Đảng luôn ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, thật sự là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đồng thời, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Đảng phải thay đổi tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay. Đây là bước chuyển mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, dù đó là bước chuyển vô cùng khó khăn, phức tạp, nhất là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tính tất yếu khách quan của thực tiễn công cuộc đổi  mới  đất  nước quy định sự cần thiết Đảng phải vươn lên ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền. Đó là việc nâng tầm cao trí tuệ, bản lĩnh, sự kiên định vững vàng về lập trường, tư tưởng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Thực tế chỉ ra rằng, tầm của Đảng nói chung, của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng thể hiện rõ ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở giá trị vật chất, tinh thần đem lại cho tập thể, cộng đồng và nhân dân. Sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự đóng góp thiết thực, hiệu quả nhất đối với việc nâng tầm cao uy trí, vị thế của một Đảng Cộng sản cầm quyền.
Trước đây, trong lãnh đạo nhân dân ta tiến hành kháng chiến, cứu nước, tầm của Đảng ta thể hiện rất rõ trong lãnh đạo nhân dân ta kiên quyết đấu tranh, giành thắng lợi, đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay, yêu cầu nhiệm vụ mới đòi hỏi tầm của Đảng Cộng sản cầm quyền phải được nâng lên với trình độ mới cao hơn, trên cơ sở bổ sung, cập nhật thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, bao hàm cả khoa học quản lý, khoa học tổ chức, khoa học lãnh đạo và khoa học, nghệ thuật quân sự...
Hiện nay, việc nâng tầm của Đảng cần tiếp tục kiên trì quan điểm đổi mới; trong đó, đổi mới tư duy vẫn là vấn đề trước tiên, mang ý nghĩa quyết định, chi phối việc đổi mới ở các lĩnh vực khác. Đảng cần tiếp tục đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; trọng tâm là đổi mới tư duy về lĩnh vực kinh tế. Đây là cơ sở nền tảng quy định sự tồn tại, phát triển của chế độ xã hội ta và nó đang là vấn đề thời sự nóng bỏng nhất, có ý nghĩa quyết định đưa nước ta thoát ra khỏi “cái bẫy”thu nhập trung bình, giữ vững sự ổn định tình hình đất nước, đồng thời là cơ sở để tìm ra mô hình cũng như con đường để đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Điều quan trọng là phải đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ, nội dung khoa học cho đổi mới tư duy, đúc kết, khái quát lý luận từ thực tiễn hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới vừa qua do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Cùng với đổi mới tư duy, cần tiếp tục đổi mới về tổ chức để bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở vận hành thông thoáng, tốt hơn, tránh được sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, tinh giảm được biên chế, nâng cao được hiệu lực, hiệu quả công tác. Thực hiện được điều đó thì công tác tổ chức của Đảng mới thích ứng, phù hợp với vai trò của một đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hơn lúcnào hết, Đảng đang cần có một đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực, có tư duy đổi mới, có trình độ, khả năng thực hiện đổi mới, có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này chỉ có thể đạt được khi Đảng kiên quyết chống mọi biểu hiện lệch lạc như: “bệnh” quan liêu, tham nhũng, lãng phí; mất dân chủ, thành kiến, bè phái, cục bộ địa phương... Mỗi cán bộ, đảng viên cần coi đây là trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Đảng, trước nhân dân, cần nghiêm túc tự đổi mới, điều chỉnh nhận thức và hành động sao cho phù hợp hơn với yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng trong điều kiện mới. Nếu đổi mới là từ bỏ những gì là lệch lạc, lỗi thời hay sai trái để đi đến những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn, thì chỉnh đốn Đảng là sắp xếp lại những cái vốn có trước kia đến nay vẫn đúng nhưng đã bị làm sai lệch để mọi công việc đi vào nền nếp, luôn phát huy tốt tác dụng. Từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức làm tốt điều ấy.
Hiện nay, việc nâng tầm của Đảng cần tiếp tục kiên trì quan điểm đổi mới; trong đó, đổi mới tư duy vẫn là vấn đề trước tiên, mang ý nghĩa quyết định. Đảng cần tiếp tục đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; trọng tâm là đổi mới tư duy kinh tế. Đây là vấn đề thời sự nóng bỏng nhất, có ý nghĩa quyết định đưa nước ta thoát ra khỏi “cái bẫy” thu nhập trung bình, giữ vững sự ổn định đất nước, đồng thời là cơ sở để tìm con đường đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Để thực hiện được điều đó, Đảng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận từ thực tiễn công cuộc đổi mới, cung cấp luận cứ khoa học cho đổi mới tư duy, đề xuất những chủ trương, chính sách có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả thiết thực.
Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới về tổ chức để bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở tránh được sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, tinh giảm được biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác. Hơn lúc nào hết, Đảng cần xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, có tư duy đổi mới, có trình độ, khả năng thực hiện đổi mới, có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này, chỉ có thể đạt được khi Đảng kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy lùi “bệnh” quan liêu, tham nhũng, lãng phí; mất dân chủ, thành kiến, bè phái, cục bộ địa phương... Mỗi cán bộ, đảng viên cần coi đây là trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Đảng, trước nhân dân, cần nghiêm túc tự đổi mới, tự chỉnh đốn về cả nhận thức và hành động sao cho phù hợp hơn với yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng trong điều kiện mới.
Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn không chỉ tiến hành một lần trong một thời gian ngắn là xong, là đủ, mà là việc thường xuyên và lâu dài. Điều đó là do công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng được đẩy mạnh, càng đi vào chiều sâu thì nhiều vấn đề mới lại nảy sinh, luôn đặt ra đòi hỏi Đảng phải nhận thức và có lời giải đáp nhanh và chính xác để thực hiện tốt nhất vai trò lãnh đạo của mình. Đồng thời, Đảng phải vượt lên phía trước để không bị rơi vào tình trạng bất cập, lạc hậu với thời cuộc. Mặt khác, Đảng phải kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và sử dụng tốt “vũ khí”đấu tranh tự phê bình và phê bình để nhìn nhận rõ thành tựu, khuyết điểm, hạn chế, chỉ ra sai lầm trong công tác lãnh đạo và đề ra chủ trương, biện pháp khả thi để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, sai lầm trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.69

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI  ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN
CHIA RẼ,  PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
                                
Cùng chung vận mệnh sinh tồn, các tộc người ở nước ta đã sớm đoàn kết, cố kết “chung lưng đấu cật” để chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm. Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là truyền thống quý báu mà còn là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng nước ta, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố và phát huy, đã và đang trở thành nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn coi chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộclà “huyệt” nhạy cảm, trọng điểm “ưu tiên” chống phá cách mạng nước ta.
Hiện nay, âm mưu của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề dân tộc làm mũi nhọn tiến công thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá từ bên trong, thúc đẩy quá trình tự diễn biến với sự kết hợp từ bên ngoài nhằm làm chuyển biến chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu của chúng là: tạo ra sự mất đoàn kết, mâu thuẫn xung đột giữa các dân tộc thiểu số với người kinh và giữa các dân tộc thiểu số; khơi dậy, kích động tư tưởng chống đối các phần tử bất mãn, tiêu cực, làm cho chúng hướng ra ngoài, chờ thời cơ hoạt động; làm suy giảm niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Chính quyền, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước, tạo sự bất bình trong nhân dân, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện âm mưu phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chúng đã và đang sử dụng nhiều thủ đoạn thâm độc, trong đó nổi lên những thủ đoạn cơ bản là:
- Xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc. Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại như đài RFA, một số đài khác bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc, mạng Interne… để phát tán tài liệu phản động, sai trái; khai thác tối đa công cụ truyền miệng để tung tin thất thiệt, sai lệch về đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
- Kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai… như đòi cái gọi là quyền “tự trị” của các dân tộc thiểu số, thành lập “Vương quốc Mông độc lập”, “nhà nước Đê ga độc lập”, “quốc gia Khơ me Crôm”… Triệt để lợi dụng sự chênh lệch giữa các dân tộc về chính trị kinh tế - xã hội, sự khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo giữa các dân tộc, những tồn tại của lịch sử để tuyên truyền kích động đòi ly khai, tự trị và tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, như tổ chức kỷ niệm cái gọi là “lễ mất đất” (ngày 04 tháng 6) của một nhóm người Khơme hải ngoại, “ngày thành lập FULRO” (ngày 20 tháng 09)... tung hô cái gọi là “vấn đề người Thượng ở Tây Nguyên”, “vấn đề người Chăm”, “vấn đề người Khơ-me”, “vấn đề người Mông”...
- Mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc chống đối chính quyền, di cư và vượt biên trái phép, gây bất ổn chính trị - xã hội. Thâm độc hơn, chúng gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo và nhân quyền gây xung đột, bạo loạn, tạo các “điểm nóng” để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”… Trong năm 2001, 2004 chúng đã kích động hàng chục nghìn người ở Tây Nguyên tham gia biểu tình, bạo loạn phá hoại kinh tế, chống đối chính quyền; xúi dục, lừa gạt người dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài đã khiến cho nhiều người bỏ nhà cửa, nương rẫy, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”, “tan đàn sẻ nghé”. Trong tháng 4, tháng 5 năm 2011, chúng kích động, lừa gạt, đồng bào Mông ở Mường Nhé (Điện Biên) bỏ sản xuất, tụ tập đông người, chống đối cán bộ chính quyền, gây mất trật tự an ninh khu vực.
- Lợi dụng những sơ hở, sai sót của chính quyền cơ sở, phức tạp hóa những vấn đề nhạy cảm, bức xúc trong cộng đồng như tranh chấp đất đai, quan liêu, tham nhũng, hối lộ… để thổi phồng khuyết điểm, nói xấu cán bộ, nói xấu chính quyền, làm mất uy tín và vai trò của Đảng; từ đó kích động, tiếp tay, can thiệp, gây mâu thuẫn, xích mích trong nhân dân, đối lập nhân dân với chính quyền. Chúng lợi dụng trình độ nhận thức còn hạn chế của đồng bào để lừa bịp mê hoặc, lôi kéo quần chúng tham gia hậu thuẫn cho lực lượng chống phá, bạo loạn lật đổ khi có thời cơ. 
- Nuôi dưỡng các phần tử bất mãn, tiêu cực ở trong nước, xây dựng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài, tạo lực lượng bên trong cấu kết với lực lượng bên ngoài, khi thời cơ đến thì tạo cớ, lấy cớ cán thiệp vào công việc nội bộ ở nước ta. Chúng tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các tộc người ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, như: Liên đoàn Khơ - me Cam-pu-chia Crôm thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Khơ-me Cam-pu-chia Crôm, Trí thức Mông, Hiệp hội người Thượng Đề - ga, Trung tâm Thái học, Văn phòng Chăm-pa quốc tế ,…
- Hỗ trợ thành lập các đài phát thanh như VOKK (Khơ-me Cam-pu-chia Crôm), RFA (Châu Á tự do), đài Đề-ga và in ấn báo chí, tạp chí, tài liệu bằng tiếng dân tộc, tán phát băng đĩa có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “chiếm đất”, “đàn áp, kìm kẹp người dân tộc thiểu số”, “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế”, tuyên truyền về một cuộc sống giàu sangxây dựng ảo tưởng, khoét sâu tâm lý ly khai, kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai” “chia nhỏ”, “xé lẻ” Việt Nam.
- Lợi dụng hoạt động tôn giáo, thực hiện “Đạo hoá” dân tộc để lôi kéo, tập hợp lực lượng, hình thành các khung chính quyền ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo. Các thế lực thù địch đã tăng cường lợi dụng bình phong hoạt động “đạo hoá” dân tộc, nhất là truyền đạo Tin Lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm tiến tới mục đích chuyển hoá ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng Cứu thế (Chúa Trời, Vàng Chứ), làm thay đổi nếp sống văn hoá truyền thống bằng thứ văn hoá xa lạ, trên cơ sở đó dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhen nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp.
- Lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, ngoại giao, hợp tác, nghiên cứu văn hóa dân tộc… để thu thập thông tin tình báo, tập hợp lực lượng, móc nối xây dựng cơ sở, tạo dựng “ngọn cờ” tiến hành các hoạt động phá hoại. Chúng lợi dụng chính sách mở cửa, mở rộng quan hệ quốc tế của Nhà nước ta để tranh thủ đưa người từ nước ngoài vào xâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm đi sâu tìm hiểu các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống của dân tộc thiểu số cũng như chủ trương của đảng, nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, có không ít tổ chức phi chính phủ hỗ trợ, kích động biểu tình, bạo loạn, vượt biên trái phép gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đã và đang làm tổn hại đến quan hệ giữa các dân tộc, cản trở quá trình xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta và trực tiếp ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta là đặc biệt cấp thiết. Để chủ động đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chia sẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:
  Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của đồng bào về chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trong suốt các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dận tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”[1]. Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đã và đang được cụ thể hóa, hiện thức hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là không có cơ sở và đi ngược lại lợi ích của các dân tộc. Để nhân dân nhận thức sâu sắc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh với những luận điệu sai trái, phản động cần đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng khu vực, từng dân tộc; đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền như: học tập chính trị; thông qua các phương tiện đại chúng (sách, báo, tài liệu, đài phát thanh, truyền hình, mạng Internet…); tổ chức các lễ hội truyền thống theo phong tục, tập quán tốt đẹp của từng dân tộc; tranh thủ già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ; tăng cường cán bộ, đảng viên xuống những nơi khó khăn, phức tạp để làm tốt công tác vận động quần chúng.
Hai là, xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, các khuynh hướng, lực lượng xã hội trong quá trình hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
Ba là, mở rộng và thực thi có hiệu quả dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không ngừng hoàn thiện pháp luật, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tăng cường kỷ cương, kỷ luật nhằm động viên, phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhân dân, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự đồng thuận cao trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Bốn là, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Tập trung thực hiện thắng lợi các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh từng vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tín dụng ưu đãi để người dân có vốn phát triển sản xuất; tư vấn giúp đỡ đồng bào áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sản xuất và đời sống, nâng cao dân trí, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về vùng sâu, vùng xa. Chăm lo đời sống tinh thần của các dân tộc thiểu số và đồng bào theo đạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa từng dân tộc.
Năm là,  tích cực chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh về mọi mặt, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Cần coi trọng xây dựng tổ chức đảng, chính quyền cấp huyện, xã, làng, bản thực sự trong sạch, vững mạnh; đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp; xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, các ban ngành đoàn thể, chú trọng nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách về dân tộc, tôn giáo ở địa phương. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, khắc phục bệnh quan liêu xa rời cơ sở, xa rời quần chúng trong cán bộ, đảng viên.
Sáu là, tăng cường quốc phòng, an ninh làm thất bại hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Chăm lo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng quân đội và công an thực sự trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; chủ động nắm chắc tình hình địa phương, phát hiện và xử lý kịp thời những mâu thuẫn trong nhân dân theo đúng pháp luật. Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng vũ trang đấu tranh chủ động tấn công địch từ bên ngoài, ngay tại sào huyệt của chúng, tập trung vào số đối tượng cốt cán, cầm đầu phản động ở nước ngoài.
Đại đoàn kết dân tộc là di sản văn hóa quý giá của dân tộc ta, là nền tảng tinh thần cao đẹp và là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam. Mọi âm mưu, thủ đoạn chia sẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là đi ngược lại truyền thống, lợi ích và khát vọng ngàn đời của dân tộc ta. Do đó, cần sử dụng đồng thời nhiều giải pháp, chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới./.




[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr 81