Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

THƯỜNG XUYÊN TỰ ĐỔI MỚI, TỰ CHỈNH ĐỐN - QUY LUẬT
 TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG TA

Đổi mới là từ bỏ những gì là lệch lạc, lỗi thời hay sai trái để đi đến những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn. Chỉnh đốn Đảng là sắp xếp lại những cái vốn có trước đây và đến nay vẫn đúng nhưng đã bị làm sai lệch để mọi công việc đi vào nền nếp, luôn phát huy tốt tác dụng. Đổi mới, chỉnh đốn không phải để Đảng xa rời bản chất khoa học và cách mạng mà là giữ vững và tăng cường bản chất ấy; khẳng định rõ hơn mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; làm cho Đảng ta mãi mãi là một Đảng cách mạng chân chính, luôn xứng đáng với sự tin yêu, kính trọng, sự tôn vinh của nhân dân. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng cũng đều quan tâm đến vấn đề xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới, làm cho Đảng luôn ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đảng phải nâng tầm cao trí tuệ, bản lĩnh, kiên định về lập trường, tư tưởng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Hiện nay, Đảng ta tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng là sự phù hợp với quy luật tồn tại và phát triển của Đảng trong tình hình mới. Mọi luận xuyên tạc, mọi hành động lợi dụng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng để phủ nhận vai trò của Đảng, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta là hoàn toàn sai trái.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thực hiện chỉ dẫn của Người, trong những năm qua, Đảng luôn quan tâm đến vấn đề xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới, làm cho Đảng luôn ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, thật sự là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đồng thời, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Đảng phải thay đổi tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay. Đây là bước chuyển mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, dù đó là bước chuyển vô cùng khó khăn, phức tạp, nhất là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tính tất yếu khách quan của thực tiễn công cuộc đổi  mới  đất  nước quy định sự cần thiết Đảng phải vươn lên ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền. Đó là việc nâng tầm cao trí tuệ, bản lĩnh, sự kiên định vững vàng về lập trường, tư tưởng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Thực tế chỉ ra rằng, tầm của Đảng nói chung, của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng thể hiện rõ ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở giá trị vật chất, tinh thần đem lại cho tập thể, cộng đồng và nhân dân. Sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự đóng góp thiết thực, hiệu quả nhất đối với việc nâng tầm cao uy trí, vị thế của một Đảng Cộng sản cầm quyền.
Trước đây, trong lãnh đạo nhân dân ta tiến hành kháng chiến, cứu nước, tầm của Đảng ta thể hiện rất rõ trong lãnh đạo nhân dân ta kiên quyết đấu tranh, giành thắng lợi, đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay, yêu cầu nhiệm vụ mới đòi hỏi tầm của Đảng Cộng sản cầm quyền phải được nâng lên với trình độ mới cao hơn, trên cơ sở bổ sung, cập nhật thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, bao hàm cả khoa học quản lý, khoa học tổ chức, khoa học lãnh đạo và khoa học, nghệ thuật quân sự...
Hiện nay, việc nâng tầm của Đảng cần tiếp tục kiên trì quan điểm đổi mới; trong đó, đổi mới tư duy vẫn là vấn đề trước tiên, mang ý nghĩa quyết định, chi phối việc đổi mới ở các lĩnh vực khác. Đảng cần tiếp tục đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; trọng tâm là đổi mới tư duy về lĩnh vực kinh tế. Đây là cơ sở nền tảng quy định sự tồn tại, phát triển của chế độ xã hội ta và nó đang là vấn đề thời sự nóng bỏng nhất, có ý nghĩa quyết định đưa nước ta thoát ra khỏi “cái bẫy”thu nhập trung bình, giữ vững sự ổn định tình hình đất nước, đồng thời là cơ sở để tìm ra mô hình cũng như con đường để đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Điều quan trọng là phải đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ, nội dung khoa học cho đổi mới tư duy, đúc kết, khái quát lý luận từ thực tiễn hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới vừa qua do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Cùng với đổi mới tư duy, cần tiếp tục đổi mới về tổ chức để bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở vận hành thông thoáng, tốt hơn, tránh được sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, tinh giảm được biên chế, nâng cao được hiệu lực, hiệu quả công tác. Thực hiện được điều đó thì công tác tổ chức của Đảng mới thích ứng, phù hợp với vai trò của một đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hơn lúcnào hết, Đảng đang cần có một đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực, có tư duy đổi mới, có trình độ, khả năng thực hiện đổi mới, có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này chỉ có thể đạt được khi Đảng kiên quyết chống mọi biểu hiện lệch lạc như: “bệnh” quan liêu, tham nhũng, lãng phí; mất dân chủ, thành kiến, bè phái, cục bộ địa phương... Mỗi cán bộ, đảng viên cần coi đây là trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Đảng, trước nhân dân, cần nghiêm túc tự đổi mới, điều chỉnh nhận thức và hành động sao cho phù hợp hơn với yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng trong điều kiện mới. Nếu đổi mới là từ bỏ những gì là lệch lạc, lỗi thời hay sai trái để đi đến những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn, thì chỉnh đốn Đảng là sắp xếp lại những cái vốn có trước kia đến nay vẫn đúng nhưng đã bị làm sai lệch để mọi công việc đi vào nền nếp, luôn phát huy tốt tác dụng. Từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức làm tốt điều ấy.
Hiện nay, việc nâng tầm của Đảng cần tiếp tục kiên trì quan điểm đổi mới; trong đó, đổi mới tư duy vẫn là vấn đề trước tiên, mang ý nghĩa quyết định. Đảng cần tiếp tục đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; trọng tâm là đổi mới tư duy kinh tế. Đây là vấn đề thời sự nóng bỏng nhất, có ý nghĩa quyết định đưa nước ta thoát ra khỏi “cái bẫy” thu nhập trung bình, giữ vững sự ổn định đất nước, đồng thời là cơ sở để tìm con đường đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Để thực hiện được điều đó, Đảng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận từ thực tiễn công cuộc đổi mới, cung cấp luận cứ khoa học cho đổi mới tư duy, đề xuất những chủ trương, chính sách có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả thiết thực.
Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới về tổ chức để bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở tránh được sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, tinh giảm được biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác. Hơn lúc nào hết, Đảng cần xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, có tư duy đổi mới, có trình độ, khả năng thực hiện đổi mới, có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này, chỉ có thể đạt được khi Đảng kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy lùi “bệnh” quan liêu, tham nhũng, lãng phí; mất dân chủ, thành kiến, bè phái, cục bộ địa phương... Mỗi cán bộ, đảng viên cần coi đây là trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Đảng, trước nhân dân, cần nghiêm túc tự đổi mới, tự chỉnh đốn về cả nhận thức và hành động sao cho phù hợp hơn với yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng trong điều kiện mới.
Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn không chỉ tiến hành một lần trong một thời gian ngắn là xong, là đủ, mà là việc thường xuyên và lâu dài. Điều đó là do công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng được đẩy mạnh, càng đi vào chiều sâu thì nhiều vấn đề mới lại nảy sinh, luôn đặt ra đòi hỏi Đảng phải nhận thức và có lời giải đáp nhanh và chính xác để thực hiện tốt nhất vai trò lãnh đạo của mình. Đồng thời, Đảng phải vượt lên phía trước để không bị rơi vào tình trạng bất cập, lạc hậu với thời cuộc. Mặt khác, Đảng phải kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và sử dụng tốt “vũ khí”đấu tranh tự phê bình và phê bình để nhìn nhận rõ thành tựu, khuyết điểm, hạn chế, chỉ ra sai lầm trong công tác lãnh đạo và đề ra chủ trương, biện pháp khả thi để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, sai lầm trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.69

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI  ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN
CHIA RẼ,  PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
                                
Cùng chung vận mệnh sinh tồn, các tộc người ở nước ta đã sớm đoàn kết, cố kết “chung lưng đấu cật” để chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm. Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là truyền thống quý báu mà còn là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng nước ta, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố và phát huy, đã và đang trở thành nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn coi chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộclà “huyệt” nhạy cảm, trọng điểm “ưu tiên” chống phá cách mạng nước ta.
Hiện nay, âm mưu của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề dân tộc làm mũi nhọn tiến công thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá từ bên trong, thúc đẩy quá trình tự diễn biến với sự kết hợp từ bên ngoài nhằm làm chuyển biến chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu của chúng là: tạo ra sự mất đoàn kết, mâu thuẫn xung đột giữa các dân tộc thiểu số với người kinh và giữa các dân tộc thiểu số; khơi dậy, kích động tư tưởng chống đối các phần tử bất mãn, tiêu cực, làm cho chúng hướng ra ngoài, chờ thời cơ hoạt động; làm suy giảm niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Chính quyền, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước, tạo sự bất bình trong nhân dân, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện âm mưu phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chúng đã và đang sử dụng nhiều thủ đoạn thâm độc, trong đó nổi lên những thủ đoạn cơ bản là:
- Xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc. Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại như đài RFA, một số đài khác bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc, mạng Interne… để phát tán tài liệu phản động, sai trái; khai thác tối đa công cụ truyền miệng để tung tin thất thiệt, sai lệch về đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
- Kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai… như đòi cái gọi là quyền “tự trị” của các dân tộc thiểu số, thành lập “Vương quốc Mông độc lập”, “nhà nước Đê ga độc lập”, “quốc gia Khơ me Crôm”… Triệt để lợi dụng sự chênh lệch giữa các dân tộc về chính trị kinh tế - xã hội, sự khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo giữa các dân tộc, những tồn tại của lịch sử để tuyên truyền kích động đòi ly khai, tự trị và tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, như tổ chức kỷ niệm cái gọi là “lễ mất đất” (ngày 04 tháng 6) của một nhóm người Khơme hải ngoại, “ngày thành lập FULRO” (ngày 20 tháng 09)... tung hô cái gọi là “vấn đề người Thượng ở Tây Nguyên”, “vấn đề người Chăm”, “vấn đề người Khơ-me”, “vấn đề người Mông”...
- Mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc chống đối chính quyền, di cư và vượt biên trái phép, gây bất ổn chính trị - xã hội. Thâm độc hơn, chúng gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo và nhân quyền gây xung đột, bạo loạn, tạo các “điểm nóng” để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”… Trong năm 2001, 2004 chúng đã kích động hàng chục nghìn người ở Tây Nguyên tham gia biểu tình, bạo loạn phá hoại kinh tế, chống đối chính quyền; xúi dục, lừa gạt người dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài đã khiến cho nhiều người bỏ nhà cửa, nương rẫy, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”, “tan đàn sẻ nghé”. Trong tháng 4, tháng 5 năm 2011, chúng kích động, lừa gạt, đồng bào Mông ở Mường Nhé (Điện Biên) bỏ sản xuất, tụ tập đông người, chống đối cán bộ chính quyền, gây mất trật tự an ninh khu vực.
- Lợi dụng những sơ hở, sai sót của chính quyền cơ sở, phức tạp hóa những vấn đề nhạy cảm, bức xúc trong cộng đồng như tranh chấp đất đai, quan liêu, tham nhũng, hối lộ… để thổi phồng khuyết điểm, nói xấu cán bộ, nói xấu chính quyền, làm mất uy tín và vai trò của Đảng; từ đó kích động, tiếp tay, can thiệp, gây mâu thuẫn, xích mích trong nhân dân, đối lập nhân dân với chính quyền. Chúng lợi dụng trình độ nhận thức còn hạn chế của đồng bào để lừa bịp mê hoặc, lôi kéo quần chúng tham gia hậu thuẫn cho lực lượng chống phá, bạo loạn lật đổ khi có thời cơ. 
- Nuôi dưỡng các phần tử bất mãn, tiêu cực ở trong nước, xây dựng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài, tạo lực lượng bên trong cấu kết với lực lượng bên ngoài, khi thời cơ đến thì tạo cớ, lấy cớ cán thiệp vào công việc nội bộ ở nước ta. Chúng tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các tộc người ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, như: Liên đoàn Khơ - me Cam-pu-chia Crôm thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Khơ-me Cam-pu-chia Crôm, Trí thức Mông, Hiệp hội người Thượng Đề - ga, Trung tâm Thái học, Văn phòng Chăm-pa quốc tế ,…
- Hỗ trợ thành lập các đài phát thanh như VOKK (Khơ-me Cam-pu-chia Crôm), RFA (Châu Á tự do), đài Đề-ga và in ấn báo chí, tạp chí, tài liệu bằng tiếng dân tộc, tán phát băng đĩa có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “chiếm đất”, “đàn áp, kìm kẹp người dân tộc thiểu số”, “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế”, tuyên truyền về một cuộc sống giàu sangxây dựng ảo tưởng, khoét sâu tâm lý ly khai, kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai” “chia nhỏ”, “xé lẻ” Việt Nam.
- Lợi dụng hoạt động tôn giáo, thực hiện “Đạo hoá” dân tộc để lôi kéo, tập hợp lực lượng, hình thành các khung chính quyền ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo. Các thế lực thù địch đã tăng cường lợi dụng bình phong hoạt động “đạo hoá” dân tộc, nhất là truyền đạo Tin Lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm tiến tới mục đích chuyển hoá ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng Cứu thế (Chúa Trời, Vàng Chứ), làm thay đổi nếp sống văn hoá truyền thống bằng thứ văn hoá xa lạ, trên cơ sở đó dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhen nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp.
- Lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, ngoại giao, hợp tác, nghiên cứu văn hóa dân tộc… để thu thập thông tin tình báo, tập hợp lực lượng, móc nối xây dựng cơ sở, tạo dựng “ngọn cờ” tiến hành các hoạt động phá hoại. Chúng lợi dụng chính sách mở cửa, mở rộng quan hệ quốc tế của Nhà nước ta để tranh thủ đưa người từ nước ngoài vào xâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm đi sâu tìm hiểu các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống của dân tộc thiểu số cũng như chủ trương của đảng, nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, có không ít tổ chức phi chính phủ hỗ trợ, kích động biểu tình, bạo loạn, vượt biên trái phép gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đã và đang làm tổn hại đến quan hệ giữa các dân tộc, cản trở quá trình xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta và trực tiếp ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta là đặc biệt cấp thiết. Để chủ động đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chia sẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:
  Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của đồng bào về chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trong suốt các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định nhất quán quan điểm: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dận tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”[1]. Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đã và đang được cụ thể hóa, hiện thức hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là không có cơ sở và đi ngược lại lợi ích của các dân tộc. Để nhân dân nhận thức sâu sắc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh với những luận điệu sai trái, phản động cần đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng khu vực, từng dân tộc; đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền như: học tập chính trị; thông qua các phương tiện đại chúng (sách, báo, tài liệu, đài phát thanh, truyền hình, mạng Internet…); tổ chức các lễ hội truyền thống theo phong tục, tập quán tốt đẹp của từng dân tộc; tranh thủ già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ; tăng cường cán bộ, đảng viên xuống những nơi khó khăn, phức tạp để làm tốt công tác vận động quần chúng.
Hai là, xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, các khuynh hướng, lực lượng xã hội trong quá trình hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
Ba là, mở rộng và thực thi có hiệu quả dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không ngừng hoàn thiện pháp luật, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tăng cường kỷ cương, kỷ luật nhằm động viên, phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhân dân, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự đồng thuận cao trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Bốn là, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Tập trung thực hiện thắng lợi các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh từng vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tín dụng ưu đãi để người dân có vốn phát triển sản xuất; tư vấn giúp đỡ đồng bào áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sản xuất và đời sống, nâng cao dân trí, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về vùng sâu, vùng xa. Chăm lo đời sống tinh thần của các dân tộc thiểu số và đồng bào theo đạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa từng dân tộc.
Năm là,  tích cực chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh về mọi mặt, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Cần coi trọng xây dựng tổ chức đảng, chính quyền cấp huyện, xã, làng, bản thực sự trong sạch, vững mạnh; đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp; xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, các ban ngành đoàn thể, chú trọng nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách về dân tộc, tôn giáo ở địa phương. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, khắc phục bệnh quan liêu xa rời cơ sở, xa rời quần chúng trong cán bộ, đảng viên.
Sáu là, tăng cường quốc phòng, an ninh làm thất bại hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Chăm lo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng quân đội và công an thực sự trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; chủ động nắm chắc tình hình địa phương, phát hiện và xử lý kịp thời những mâu thuẫn trong nhân dân theo đúng pháp luật. Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng vũ trang đấu tranh chủ động tấn công địch từ bên ngoài, ngay tại sào huyệt của chúng, tập trung vào số đối tượng cốt cán, cầm đầu phản động ở nước ngoài.
Đại đoàn kết dân tộc là di sản văn hóa quý giá của dân tộc ta, là nền tảng tinh thần cao đẹp và là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam. Mọi âm mưu, thủ đoạn chia sẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là đi ngược lại truyền thống, lợi ích và khát vọng ngàn đời của dân tộc ta. Do đó, cần sử dụng đồng thời nhiều giải pháp, chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới./.




[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr 81

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN "PHI CHÍNH TRỊ HOÁ" LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
            Trước sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong hơn 30 năm đổi mới, các thế lực thù địch không ngớt xuyên tạc, công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước, đặc biệt là liên tục xuyên tạc, công kích và đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cổ súy cho chủ nghĩa đa nguyên chính trị, nhằm gây rối loạn xã hội ta. Đối với LLVT, các thế lực thù địch đã, đang và sẽ sử dụng nhiều chiêu bài chống phá, từ lý luận, tư tưởng đến hành động nhằm thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa”. Họ ra sức tán phát, truyền bá tài liệu, tuyên truyền hòng phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuyên tạc tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quốc phòng, an ninh, xây dựng LLVT, bảo vệ Tổ quốc. Họ tung ra những luận điệu rằng, “QĐND Việt Nam và CAND Việt Nam chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái, lực lượng chính trị nào”, hoặc “Quân đội, công an chỉ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và chủ quyền quốc gia”. Họ còn “góp ý”, “kiến nghị” yêu cầu Việt Nam phải “duy trì tính trung lập chính trị của LLVT”; quân đội và công an phải “đứng ngoài chính trị”. Thậm chí, họ còn đưa ra yêu cầu hết sức phi lý, ngang ngược là phải bỏ nội dung LLVT tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, được ghi trong Điều 65 Hiến pháp năm 2013; khuyến nghị Việt Nam “học tập kinh nghiệm xây dựng LLVT theo mô hình của quân đội tư sản”...

           Trong các thủ đoạn nham hiểm chống phá LLVT, các thế lực thù địch tìm mọi cách hạ thấp, hòng đi đến xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND và CAND; xóa bỏ công tác đảng, công tác chính trị, cùng hệ thống cán bộ chính trị và cơ quan chính trị trong QĐND và CAND. Bên cạnh đó, họ ra sức xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, truyền thống của QĐND và CAND, gây mất ổn định chính trị nội bộ; làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội và công an; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị trọng đại của đất nước có lực lượng quân đội và công an tham gia, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của hai lực lượng này trước nhân dân, trong xã hội và trên trường quốc tế. Lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đang được đẩy mạnh trong xã hội ta, các thế lực thù địch tìm cách khoét sâu các mặt tồn tại, yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước, những khó khăn về đời sống và một vài vụ, việc vi phạm kỷ luật đơn lẻ của một số cán bộ, chiến sĩ, đơn vị trong LLVT để khuyến khích LLVT từ bỏ trách nhiệm bảo vệ Nhà nước và chế độ, đồng thời vu cáo LLVT không còn mang bản chất giai cấp công nhân. 

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH"
TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG HIỆN NAY
                                                                                  
Chiến lược “diễn biến hoà bình” là âm mưu cực kỳ thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trong đó lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, văn hoá được các thế xác định là khâu đột phá.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng  làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”[1]. Đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở Việt Nam diễn ra ngày càng quyết liệt, là mặt trận nóng bỏng hàng đầu. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này phải có các giải pháp đồng bộ nhằm tạo ra sức đề kháng trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, cơ hội; trên cơ sở đó tạo ra sự thống nhất cao về chính trị - tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
 Trước hết, cần kiên định và đẩy mạnh việc nghiên cứu, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở khoa học cho cuộc đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, được tổng kết, đúc rút từ sự phân tích toàn bộ lịch sử nhân loại và thực tiễn xã hội của Việt Nam.
Khi sự nghiệp đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, những biến đổi trên thế giới nhanh chóng, phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn hòng xuyên tạc, phủ nhận từng luận điểm trong học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nắm chắc bản chất để vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách giúp Đảng “không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đề ra”[2].
Cần đi sâu khẳng định những luận điểm đúng đắn từ lúc mới ra đời cho đến nay. Chỉ ra những luận điểm chỉ đúng và phù hợp trong điều kiện lịch sử lúc đó, đến nay đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua. Những luận điểm trước, nay là đúng nhưng những người vận dụng nó đã hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ nên vận dụng không đúng. Những luận điểm cần được bổ sung, phát triển.Quá trinh học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở khách quan, dám nhìn thẳng vào sự thật và chấp nhận thách thức; phải xuất phát và bám sát từ thực tiễn xây dựng đất nước và những điều kiện cụ thể của thế giới đương.
Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi thành lập đã xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, đây chính là yếu tố quyết định giúp Đảng ta có đường lối đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng trong mọi hoàn cảnh, kể cả những thời điểm đầy khó khăn, thử thách để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Ngày nay, cho dù chủ nghĩa xã hội đang lâm vào thoái trào nhưng hầu hết các Đảng Cộng sản trên thế giới vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho quá trình thực hiện mục tiêu, lý tưởng xây dựng một xã hội công bằng, không còn áp bức, bóc lột. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không có nghĩa là biến hệ tư tưởng của các ông thành một thứ kinh thánh để ca tụng và vận dụng giáo điều, máy móc. Phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước, không ngừng đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển, hoàn thiện để chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là một học thuyết khoa học, cách mạng. Đòi hỏi với quá trình nghiên cứu, giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở Học viện ta phải phấn đấu chống kinh viện hóa, sơ cứng hóa, đưa lý luận Mác - Lênin gắn đời sống xã hội.
Hai là, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, giáo dục cho nhân dân nắm chắc âm mưu thủ đoạn tiến hành “DBHB” của các thế lực thù địch.
Cấp ủy, chính quyền các cấp cần bám sát thực tiễn, nắm chắc tình hình diễn biến tư tưởng trong Đảng và xã hội, thường xuyên nghiên cứu thu thập dư luận xã hội, nắm bắt đúng và trúng dư luận xã hội, chỉ đạo, xử lý kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh ở từng địa bàn để giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Thường xuyên nắm bắt thái độ, niềm tin, tâm trạng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để có giải pháp phát huy, chấn chỉnh và uốn nắn, định hướng kịp thời.
Chú trọng thông tin hai chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe thông tin từ cơ sở, quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa phương châm: chủ động tiến công, đoàn kết hiệp đồng, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Chủ động nắm bắt, đánh giá và dự báo chính xác tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Thường xuyên lãnh đạo, quản lý, nắm chắc và phát huy sức mạnh tổng hợp của các hệ thống thông tin đại chúng, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân, tạo dư luận tích cực trong xã hội. Kiên quyết đấu tranh phê phán những việc làm sai trái của một số phần tử cơ hội chính trị, chống Đảng, chống chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để có thể đấu tranh kịp thời và hiệu quả với chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch, yêu cầu trước hết là phải nêu cao cảnh giác, phát hiện kịp thời, chính xác âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về chính trị văn hóa, nhất là ở những đối tượng và địa bàn trọng điểm, không để địch lợi dụng kích động hòng gây rối về chính trị. Kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm tư tưởng sai trái.
Cần tăng cường giáo dục để nhân dân nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn  của kẻ thù; tính chất quyết liệt, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi đắp tính kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng của những người làm công tác tư tưởng - văn hoá trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận.
Ba là, xây dựng và phát huy lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Vấn đề xây dựng, bồi dưỡng và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt có ý nghĩa hết sức quan trọng. Lực lượng nòng cốt phải có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến, thuyết phục người nghe, người đọc, có nhiệt huyết và dũng khí, quyết tâm đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.
Cần chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng theo một chương trình bài bản. Cần chú ý phát hiện, bồi dưỡng kịp thời những tài năng bình luận, bút chiến trên báo chí, truyền hình, quan tâm xây dựng đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan báo chí, xuất bản, đội ngũ những người thường trực tác chiến trên mạng Internet có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực chuyên môn giỏi, nhạy bén, sắc sảo để có thể kịp thời chống lại các quan điểm sai trái, thù địch.
Thường xuyên quan tâm huy động phát huy đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trong các trung tâm nghiên cứu, học viện, nhà trường, cán bộ tuyên tuyền, báo cáo viên các cấp. Mặt khác, cần huy động thêm nhiều tiếng nói, đặc biệt là tiếng nói của các nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, của đội ngũ trí thức, kể cả tiếng nói của trí thức phản diện đã giác ngộ tham gia vào cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận của Đảng.
Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp. Những chiến sĩ trên mặt trận này, nhất là những chiến sĩ tiên phong, chủ lực, trực tiếp, trực diện đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng luôn phải đối mặt với những thách thức, khó khăn và cả sự hiểm nguy trước sự tấn công của các thế lực thù địch. Vì vậy, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng lao động và tinh thần đấu tranh của họ; đồng thời có cơ chế, biện pháp bảo vệ họ trước sự chống phá của các thế lực thù địch.
Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, phát huy vai trò cơ quan chức năng, tăng cường phối kết hợp trong đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Cấp uỷ đảng các cấp phải coi cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo đảm hoạt động đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao.
Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí… tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh chống “DBHB”dưới nhiều hình thức. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.
Cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ các cấp phải chấp hành nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phải có sự phân công hợp lý, phân định rành mạch quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm giữa các cấp, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện một cách khoa học. Khắc phục tình trạng “đánh trống bỏ dùi”, “giẫm chân lên nhau” và tình trạng bỏ trống trận địa tư tưởng, văn hóa.
Cán bộ chủ trì, bí thư và cấp uỷ viên phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm chắc tình hình tư tưởng của nhân dân; rèn luyện phong cách sâu sát cơ sở; nhạy bén với cái mới, chú trọng tổng kết và kinh nghiệm sáng tạo của cơ sở, tổ chức đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh thực tế, lãnh đạo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tích cực tham gia đấu tranh chống  âm mưu “DBHB” của địch. Phê phán những tư tưởng sai trái, những nhận thức lệch lạc trong nội bộ.
Chú trọng phối hợp tổ chức các hoạt động như: tổ chức tọa đàm, hội thảo khoa học theo các chuyên đề đấu tranh tư tưởng, lý luận; gắn đấu tranh tư tưởng với tổ chức các cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật, các hoạt động liên hoan nghệ thuật quần chúng, các triển lãm chuyên đề nhỏ lẻ nhưng rộng khắp các địa phương và đơn vị, nhất là ở vùng sâu, vùng xa…
Nắm chắc và dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình tư tưởng, văn hóa trong xã hội để kịp thời đưa ra các quyết định xử lý. Kịp thời bổ sung hoàn chỉnh các quy chế lãnh đạo, quản lý các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản, công tác tuyên truyền trong xã hội. Quản lý chặt chẽ tài liệu mật của Đảng, Nhà nước, xử lý nghiêm những người phát tán tài liệu, làm lộ bí mật nội bộ.
Tổ chức đảng các cấp huy động tối đa các lực lượng xã hội tham gia vào công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cách mạng, khơi dậy tinh thần tự đề kháng của quần chúng và chủ động đấu tranh phản bác lại quan điểm sai trái thù địch, tẩy chay với các sản phẩm văn hóa xấu độc. Phát huy vai trò của Mặt trận và các tổ chức trong hệ thống chính trị, tổ chức phong trào hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Xây dựng cơ chế phối, kết hợp giữa các lực lượng của cả nước, bảo đảm sự thống nhất và sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối, kết hợp giữa các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ trong đấu tranh chống “DBHB”. Khai thác ưu thế và phát huy sức mạnh tổng hợp các công cụ, các phương tiện công tác tư tưởng - văn hóa của toàn xã hội trong cuộc đấu tranh làm thất bại chiến lược “DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch.

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

Có ý kiến cho rằng: các cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta trong thế kỷ XX là “sự hy sinh xương máu một cách vô ích”.
Trả lời:
Không phải! Thực tế, trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành và giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đó không phải là “sự hy sinh xương máu một cách vô ích” là sự hy sinh cao đẹp, là hành động ái quốc của một dân tộc anh hùng - một biểu tượng ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Trong đêm trường nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước vẫn liên tục nổ ra nhưng đều bị dìm trong biển máu và thất bại. Với khát vọng và ý chí quyết giành độc lập, tự do của toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám. Thế nhưng, nền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân vừa mới giành được lại đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài cấu kết với nhau nhằm bóp chết chính quyền còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”[1]. Lời kêu gọi đã động viên toàn dân tộc ta đứng lên chống thực dân Pháp. Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, toàn dân tộc tộc đã đứng lên đánh bại đế quốc, thực dân, làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc.
Nhưng ngay sau đó đế quốc Mĩ lại kế chân xâm lược nước ta, chúng không cho dân tộc ta được sống trong hoà bình, độc lập, tự do. Sau 20 năm chiến đấu ròng rã, hàng chục triệu người đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hiên ngang “Nhằm thẳng quân thù - bắn!” đã đánh bại tên đế quốc giàu mạnh nhất hành tinh. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân, nhưng xét đến cùng, nguyên nhân sâu xa, đó là ý chí quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ để bảo vệ vững chắc quyền độc lập, tự do của Tổ quốc.Hàng vạn người con ưu tú của dân tộc ta đã ngã xuống trên chiến trường hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời, hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó.
Có lẽ, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, dân tộc Việt Nam thấu hiểu sự vô giá của độc lập, tự do. Bởi để có hòa bình, độc lập, tự do, dân tộc ta đã phải đánh đổi bằng tính mạng, xương máu và nước mắt của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam. Thế hệ trẻ hôm nay không có quyền quên và không được phép quên những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cha anh, trái lại phải luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với các thế hệ đi trước; luôn trân trọng, giữ gìn và góp phần giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc; đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, phản động; biến truyền thống thành bản lĩnh, ý chí; chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh./.



[1] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.480

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

Cùng suy ngẫm về chuyến viếng thăm của Giám mục Ngô Quang Kiệt tại Đông Yên (Kỳ Anh – Hà Tĩnh)


       Trong sự kiện chuyến viếng thăm của Giám mục Ngô Quang Kiệt - nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội tại giáo xứ Đông Yên (Kỳ Anh – Hà Tĩnh), dư luận xã hội đang đặt ra nhiều nghi vấn đối với chuyến viếng thăm này. Có ý kiến cho rằng, vì lòng thương xót với đồng bào bị hậu quả của sự cố môi trường Formosa và thiên tai lũ lụt ở Miền Trung nên Ngô Quang Kiệt đã tới thăm động viên và tặng quà. Có ý kiến khác lại cho rằng, Ngô Quang Kiệt đến đây nhằm mục đích khác (kích động và con giáo dân chống lại chính quyền)… Mặc dù mục đích mà Ngô Quang Kiệt đến đây như thế nào, nhưng có nghi vấn đặt ra là tại sao những xuất quà đó lại được tặng cho ngẫu nhiên cho 200 họ dân thuộc giáo xứ Đông Yên - những giáo dân đã không đồng tình với việc đền bù giải phóng mặt bằng phục vụ dự án khu kinh tế Vũng Áng và cũng chính 200 hơn 200 hộ dân này là những người đã kéo ra tận trụ sở Tòa Giám mục Giáo phận ở xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An để chất vấn Tòa Giám mục Giáo phận và cá nhân Giám mục về chuyện đền bù, bồi thường không thỏa đáng này. Nếu vì tình thương yêu với đồng bào thì còn nhiều vùng khác ở miền Trung cần có sự chia sẻ, cứu trợ, động viên như ở Đông Yên tại sao Ngô Quang Kiệt không đến mà lại đến Đông Yên? Nên nhớ, Ngô Quang Kiệt Chính là người đã viết đơn khiếu kiện chính quyền Hà Nội trong vụ Thái Hà – Nhà Chung những năm 2008 và 2009. Và cũng chính Ngô Quang Kiệt đã có những phát ngôn mà mọi người phải đặt nghi vấn về lòng yêu nước của ông khi cho rằng cảm thấy xấu hổ khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam. Mặc dù động cơ của linh mục Ngô Quang Kiệt là gì thì cũng cần nâng cao cảnh giác./

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016

Cần có nguyên tắc trong đấu tranh chống tiêu cực
            Ngày nay trong điều kiện mới, đứng trước yêu cầu cách mạng, với quy mô tầm vóc lớn lao, có nhiều khó khăn phức tạp mới, hơn bao giờ hết chúng ta càng cần phải phát huy truyền thống anh hùng và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện thoái hóa, tiêu cực, chăm lo xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đất nước ngày càng phát triển. Chúng ta không sợ nói ra khuyết điểm, tiêu cực, nhưng đồng thời cũng không cho phép ai lợi dụng đấu tranh khắc phục khuyết điểm tiêu cực để bôi nhọ, kích động, chống phá Đảng ta, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.