Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016



Cảnh giác với giặc nội xâm
Hơn lúc nào hết, mỗi người phải ghi nhớ và thấm thía lời nhắc nhở của Bác, “phải nghiêm với mình và rộng lòng khoan thứ với người”, phải “cả quyết sửa lỗi lầm”, phải biết rằng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống giặc nội xâm ở ngay trong con người mình là cuộc chiến đấu suốt đời, sẽ có không ít sự đau đớn ở trong lòng, sẽ như tự phủ định chính mình, tự vượt lên những cái tầm thường, xấu xa, hư hỏng để tiến bộ nữa, tiến bộ mãi, cái tốt thì nảy nở, cái xấu, cái ác thì mất đi, mất dần rồi mất hẳn. Sâu xa ra, chính là biết từ bỏ tính tham, lòng tham, vụ lợi, vị kỷ, những sự đố kỵ, bon chen, hằn thù, những bất minh, bất chính chỉ vì lợi và danh, danh và lợi làm hư hỏng nhân cách con người trước những cám dỗ của tiền bạc, địa vị, danh vọng, quyền lực thời buổi kinh tế thị trường. Ở đời, nhân vô thập toàn, không ai là không có khuyết điểm khi còn sống và làm việc. Không ai tự nhiên mà thành tốt đẹp, thành người hoàn toàn như Bác nói. Tự phê bình và phê bình là sự hối thúc của lương tâm, phẩm giá, của lòng tự trọng danh dự và liêm sỉ.


Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016


HÃY HÀNH ĐỘNG VÌ HÒA BÌNH
Trong suốt lịch sử mấy ngàn năm, Việt Nam đã chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Việt Nam luôn khao khát hòa bình và mong muốn đóng góp vào việc củng cố hòa bình, tăng cường hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để có một nền hòa bình thực sự và bền vững, thì độc lập, chủ quyền của các quốc gia dù lớn hay nhỏ cần phải được tôn trọng; những khác biệt về lợi ích, văn hóa… cần được đối thoại cởi mở trên tinh thần xây dựng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
Chúng ta không quên, nhưng cần khép lại quá khứ để hướng tới tương lai. Với truyền thống hòa hiếu, Việt Nam luôn mong muốn cùng các nước xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, phát triển trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Việt Nam kiên định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam không ngừng nỗ lực làm sâu sắc thêm và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác hợp tác cùng có lợi với các quốc gia. Việt Nam mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác. Những năm qua, việc duy trì tăng trưởng kinh tế khá cao đã tạo điều kiện cho Việt Nam tăng ngân sách quốc phòng ở mức hợp lý. Việc hiện đại hóa quân đội của Việt Nam chỉ nhằm tự vệ, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, không nhằm vào bất cứ quốc gia nào.
Đối với các nguy cơ và thách thức về an ninh khu vực đang hiện hữu như Biển Đông, Việt Nam trước sau như một kiên trì nguyên tắc giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Các bên liên quan đều phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực. Là quốc gia ven biển, Việt Nam khẳng định và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình theo đúng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Hòa bình, hợp tác và phát triển là lợi ích, là nguyện vọng tha thiết, là tương lai chung của các quốc gia, các dân tộc. Hãy bằng những hành động cụ thể hãy cùng chung tay xây dựng và củng cố hòa bình, hợp tác, thịnh vượng.


Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016


BIỂN, ĐẢO VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG - AN NINH
Nước ta có hơn 3000 km bờ biển tiếp liền với Biển Đông. Trong lịch sử cũng như hiện nay và tương lai, Biển Đông có một vị trí chiến lược quan trọng vào hàng bậc nhất trên thế giới, là trung tâm nối liền hàng loạt các vịnh, biển và đại dương khác. Biển Đông là một phần quan trọng của châu Á - Thái Bình Dương, là đầu mối giao thông hàng hải và hàng không huyết mạch giữa châu Âu, Trung Đông, châu Á và giữa các nước Đông Nam Á, châu Á với nhau... Xung quanh Biển Đông có chín quốc gia ven biển: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, lndonesia, Malaysia, Singapore, Philippines, Brunei và Trung Quốc. Diện tích Biển Đông khoảng 3.447.000km2. Biển Đông có hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh Bắc Bộ nằm về phía Tây Bắc Biển Đông được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và bờ biển Trung Quốc, diện tích khoảng 123.700km2, dài khoảng 500 km, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km, nơi hẹp nhất khoảng 220 km, chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 694km. Vịnh Thái Lan nằm về phía Tây Nam Biển Đông được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia, diện tích khoảng 293.000km2, chiều rộng trung bình khoảng 385km, độ sâu sâu nhất khoảng 80m-85m.
Do tầm quan trọng của Biển Đông nên đất nước ta thường xuyên phải đối đầu với sự tranh chấp quyết liệt, với những hành động lấn chiếm, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; cũng như những hành vi xâm phạm vùng biển trái phép, vi phạm chủ quyền và lợi ích của Việt Nam trong các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển Việt Nam. Cũng do bờ biển nước ta dài hàng ngàn ki-lô-mét, địa hình phức tạp, trên biển có nhiều quần đảo, đảo nên việc bảo vệ biển, đảo, đảm bảo an ninh cho nhân dân trên đảo và ngư dân đánh bắt hải sản trên biển gặp không ít khó khăn, phức tạp. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải hết sức quan tâm đến việc triển khai thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên vùng biển, đảo để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, nhất là ở các khu vực trọng điểm như: vịnh Bắc Bộ, vùng biển quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vùng biển Tây Nam…

Việc phát triển kinh tế biển gắn liền với việc đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng biển và ven biển là vấn đề có tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là vấn đề có tính sống còn đối với đất nước ta trên con đường hội nhập, phát triển, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. 

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

Nói mà không biết ngượng mồm!
Việc Chính phủ công bố nguyên nhân, thủ phạm gây ra thảm trạng cá chết tại biển miền Trung không chỉ khiến ngư dân miền Trung mà người dân trong cả nước đều hết sức phấn khởi. Gần 3 tháng qua, hiện tượng cá chết đã thu hút toàn bộ sự quan tâm của cả đất nước, chất chứa cả hoài nghi và đau đớn. Khiến toàn bộ hệ thống chính trị, nhân dân, truyền thông cả nước phải vào cuộc với thái độ tích cực, quyết liệt. Vì cá chết, biển bị bức tử, không chỉ là nguồn sống của ngư dân 04 tỉnh miền Trung, mà còn là sự hủy hoại kinh tế biển, kinh tế du lịch, môi trường sống lâu dài, ảnh hưởng sức khỏe, thể lực của cả một dân tộc, vào những năm tháng vận nước đang cực kỳ nhiều thách thức. Sự kiện cá chết miền Trung cũng là cơ hội để những kẻ xấu bụng, phản động tung thông tin thiếu thiện chí, phản khoa học dày đặc trên các trang mạng xã hội nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, và Nhà nước ta, gây mất ổn định xã hội.
Nhưng, như người Việt Nam vẫn thường nói “cây ngay không sợ chết đứng”.  Cây “ngay” là bởi ngay khi xảy ra sự việc cá chết, người đứng đầu chính phủ đã nhanh chóng chỉ đạo các bộ, ngành liên quan khẩn trương vào cuộc điều tra, làm rõ nguyên nhân, đồng thời đề nghị cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật bất kỳ ai vi phạm các nguyên tắc bảo vệ môi trường. Ngành chức năng đã huy động hơn 100 nhà khoa học đầu ngành của 30 cơ quan trong và ngoài nước, vào cuộc, điều tra, phản biện độc lập để có được kết luận chính xác nhất. Đồng thời, chỉ đạo cho các địa phương của 4 tỉnh miền Trung nhanh chóng thống kê thiệt hại của người dân và tổ chức hỗ trợ khẩn cấp (bất kể nguyên nhân cá chết thuộc về ai)…
           Đến nay kết luận đã rõ ràng: Những vi phạm và sự cố trong quá trình thi công vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy của công ty Formosa Hà Tĩnh là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng, làm hải sản tại 04 tỉnh miền Trung chết bất thường. Và Formosa đã chính thức: Công khai xin lỗi Chính phủ và nhân dân Việt Nam vì đã để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Bồi thường thiệt hại cho dân và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, bồi thường phục hồi môi trường biển với tổng số tiền là 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD;  Cam kết hoàn thiện công nghệ sản xuất để xử lý triệt để chất thải trước khi thải ra môi trường, không để tái diễn sự cố môi trường như vừa qua….

            Có thể nói kết luận về nguyên nhân cá chết tại các tỉnh miền Trung ngày 30 tháng 6 vừa qua như một cú đấm trời giáng vào mồm các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị, những kẻ “khẩu phật, tâm xà”. Đảng và Nhà nước ta đâu có “vô trách nhiệm, vô lương tâm” trong việc tìm nguyên nhân cá chết như lời chúng nói và việc hỗ trợ khẩn cấp cho người dân là trách nhiệm thực sự, là sự quan tâm, chia sẻ trước những mất mát, thiệt thòi của người dân chứ đâu phải là một chính sách “Mang tính xoa dịu” của Chính phủ! Thật là một bọn người vô liêm sỉ! Nói mà chẳng biết ngượng mồm!

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

Vài suy nghĩ về biển, đảo trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
 của cha ông ta
Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ luôn là ý thức thường trực của các thế hệ tiền nhân. Điều đặc biệt là dưới thời phong kiến, cha ông ta đã biết lợi dụng thuỷ triều vào công tác phòng thủ đất nước và đánh giặc ngoại xâm. Bốn trận thuỷ chiến oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc đều liên quan mật thiết đến con nước thuỷ triều. Đó là chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán vào năm 938 - trận đánh diễn ra trong một thời gian cực ngắn - giữa hai con nước thuỷ triều và tại một phạm vi rất hẹp ngay tại cửa sông ven biển, mà ý nghĩa thắng lợi thật to lớn, khiến cho quân giặc, phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa, tên tướng giặc là Thái tử Lưu Hoằng Thao cũng bỏ mạng. Cũng với chiến thắng này đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài gần một nghìn năm, đưa nước ta vào thời kỳ trung hưng; chiến thắng Bạch Đằng của quân Đại Việt thời Trần vào năm 1288 đánh thắng quân Nguyên làm cho “giang sơn ngàn thuở vững âu vàng”. Trong Binh thư yếu lược, Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn có hẳn một chương Thuỷ chiến để khảo về nghệ thuật đánh giặc trên biển và nói về các loại thuyền chiến, lại có thêm thiên thuỷ chiến đưa ra kế “nhân chỗ hiểm mà đặt hiểm…, đóng cọc lòng sông, gài nỏ góc biển, lại vững chắc hơn, đặt thuỷ lôi đáy nước, đặt tên ngầm trong sông, lại càng hiểm lạ”(1). Về nghệ thuật cắm cọc gỗ nơi lòng sông, ông viết như sau: “Nên sai ba quân chuẩn bị cột gỗ độ 200 cái cũng được, đem đến cửa sông cắm xuống nước, xa gần so le, dài ngắn không đều, hình như răng chó cài nhau, để ngầm dưới mặt nước không cho lộ thấy. Thuyền giặc tiến đến thì tất bị cọc gỗ ngăn trở, dù thuyền nhẹ buồm gió tốt, ra sức mà chèo, cũng không đi được một bước”(2). Hai lần chiến thắng quân Xiêm tại Rạch gầm - Xoài Mút, lần thứ nhất vào năm 1875 của quân Tây Sơn và lần thứ hai vào năm 1833 dưới triều Nguyễn cũng đầy hiển hách. Thời Lê Thánh Tông, nhà vua định ra quân lệnh về việc thuỷ chiến cả thảy 31 điều để rèn tập binh lính và đốc thúc họ phải thao diễn thuỷ binh thường xuyên. Từ thế kỷ XV trở đi, các triều đại phong kiến Việt Nam đầu tư xây dựng được lực lượng thuỷ binh và những chiến thuyền lớn phòng ngừa mặt bể và chống lại các hành động cướp biển, gây hấn vi phạm chủ quyền lãnh thổ của các nước. Đặc biệt, khi thuyền Hà Lan đến buôn bán ỷ có tàu to súng lớn, quân đội thiện chiến, nổi tiếng là “chúa trùm mặt bể” đến bờ biển nước ta gây sự bắt người đem đi, liền bị thế tử Dũng Lễ Hầu Nguyễn Phúc Nguyên cho thuyền chiến đánh tan tại cửa Eo (Thuận An - Huế) vào năm 1644, nhằm cảnh cáo hành động vi phạm chủ quyền của chúng. Dưới thời Trịnh - Nguyễn, vấn đề chủ quyền biển, đảo rất được quan tâm. Chúa Trịnh đã cho người vẽ thuỷ trình và mô tả tất cả các hòn đảo trên biển Đông. Chúa Nguyễn cho thành lập hai đội Hoàng Sa để hằng năm ra đảo lấy hoá vật và khẳng định chủ quyền. Dưới thời các vua triều Nguyễn, công việc bảo vệ chủ quyền biển đảo càng được quan tâm và công việc cứu nạn các thuyền buôn nước ngoài trên vùng biển nước ta như với thuyền buôn nhà Thanh và tàu thuyền của Pháp, Anh cũng được chú ý nhiều hơn. Ngay từ năm Gia Long thứ hai , nhà vua đã có chỉ truyền cho các đội thuyền, nếu thấy có thuyền giặc lai vãng bên ngoài phải kịp chạy tin hoả tốc báo cho các đồn ven biển biết để kịp thời ứng phó. Hằng năm bắt đầu từ tháng 3 cho đến tháng 7 phái các thuyền đi kiểm soát các đảo, không để cho thuyền giặc ngầm đậu, “Nếu bắt được bọn giặc để kết án, thì ắt có thưởng hậu. Nếu tuần bắt bất lực thì ắt trị tội nặng không tha”(3). Các thuyền vận tải lớn đều có thuyền binh đi theo do thám và hộ tống, lại vũ trang khí giới cho ngư dân vừa đi đánh cá vừa do thám tình hình biển, đảo. Triều đình cho lập các đồn ải, tấn sở ở những nơi hiểm yếu để phòng bị và giao trách nhiệm cụ thể cho các quan tấn thủ, tổng đốc, tuần phủ, bố chanh, án sát, lãnh binh phải chịu trách nhiệm an ninh biển, đảo thuộc địa hạt mình cai quản. Thời các chúa Nguyễn, lường trước những bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên những người trong đội Hoàng Sa tự lo trước hậu sự cho mình bằng cách mỗi người chuẩn bị sẵn một đôi chiếu, 7 dây mây và 7 cái đòn tre để nếu gặp chuyện chẳng lành trên biển thì đồng đội lấy chiếu quấn xác, dùng đòn tre nẹp thi thể, lấy dây mây buộc lại và kẹp theo một tấm thẻ tre ghi tên tuổi, quê quán và phiên hiệu của người xấu số rồi bỏ xuống biển với một niềm hy vọng mong manh là nếu xác trôi vào bờ sẽ có người vớt lên chôn cất. Với những người thân ở quê nhà khi nghe tin dữ sẽ nắn đất sét thành hình nhân bỏ vào quan tài làm lễ truy điệu, sau đó mai táng đúng như thủ tục đối với người chết để linh hồn người tử nạn quay về còn có nơi yên nghĩ. Mặc dù đầy hiểm nguy như vậy nhưng những người ra đi luôn thường trực ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Khi trong nước xảy ra nội chiến giữa các thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn và nhà Tây Sơn, đầu năm 1775 quân chúa Nguyễn bị quân Trịnh và quân Tây Sơn đánh bại, phải vượt đường biển chạy vào Nam, việc quản lý Hoàng sa bị bỏ dở thì trong trường hợp đó, lo sợ ngoại bang thừa cơ xâm phạm hải đảo nên những người dân ở Cù Lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi) tự đứng ra lập lại hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Trong lá đơn viết vào năm 1776 gửi lên chính quyền Tây Sơn, Cai hợp của phường nói rõ mục đích lập đội thuyền là, nếu xảy ra chinh chiến sẽ “vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm”, còn lúc bình sẽ “tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp”.
Các nguồn tài liệu của triều Nguyễn như Châu bản, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí đều cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam dưới thời các vua triều Nguyễn luôn khẳng định chủ quyền quốc gia đối với các biển, đảo của mình, đặc biệt với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ khẳng định trong các bộ sử lớn mà còn có sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên, kỹ lưỡng đối với mọi kế hoạch hoạt động, như việc chỉ dụ về tuần phòng biển đảo hằng năm, có lệ thưởng phạt đối với những người đi làm nhiệm vụ, việc đo đạc cắm lại mốc giới một cách khoa học hơn; lại còn lập miếu, dựng bia, trồng cây để đảm bảo cho việc lưu trú và nhu cầu tín ngưỡng của những người thực thi nhiệm vụ. Những người đi làm nhiệm vụ này được Triều đình vinh danh là “Hùng binh Trường Sa, Hoàng Sa”. Với đồng bào của mình, họ được xem là những nghĩa sĩ, khi hy sinh nơi hải đảo sẽ được suy tôn “Âm linh chiến sĩ tôn thần”, và có những hình thức tưởng niệm trọng thể.
Như thế, về mặt khai thác tiềm năng biển, dưới thời phong kiến do chính sách chung của các triều đại vẫn là “trọng nông ức thương”, nếu có mở cảng chiêu thương cũng chỉ ở một hai nơi, lại bị động một chiều ngồi chờ thuyền buôn các nước đến, không có được những đội tàu lớn vươn ra ngoài đại dương đánh bắt thuỷ sản và đi buôn bán xa nên nhìn chung vẫn chưa thật sự khai thác biển như là một lợi thế để làm giàu cho đất nước. Nhưng về mặt phòng ngừa, xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo, triều đình cũng như trong nhân dân đều luôn thường trực ý thức trách nhiệm về vấn đề này, đều xác định biển, đảo là nơi “tối thị hiểm yếu” của quốc gia. Đấy là những cứ liệu lịch sử quý báu để chúng ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về chiến lược biển, đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh, giàu lên từ biển, đấu tranh bảo vệ và đảm bảo vững chắc chủ quyền quốc gia về biển, đảo.
Tài liệu tham khảo
(1) Trần Hưng Đạo: Binh thư yếu lược. Nxb Công an nhân dân. H, 2002, tr 464.
(2) Sđ d, tr 467.
(3) Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.  T9. Nxb Thuận Hoá. Huế, 1993,
 tr 682.



Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016


                                             Cần phải tư duy cho đúng!
Việt Nam đang phải đối diện với những thế lực thù địch và những người mang quan điểm cực đoan, cường quyền, mưu toan lợi dụng vấn đề dân chủ và nhân quyền nhằm lật đổ chế độ xã hội và Nhà nước hiện hữu, chuyển sang mô hình dân chủ, nhân quyền “ngoại nhập”. Chẳng hạn như người ta xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận báo chí, bắt bớ bỏ tù những người được gọi là “bất đồng chính kiến” trong đó có các blogger; hoặc họ cho rằng Việt Nam đối xử tàn bạo với các tôn giáo với bằng chứng là những vụ xét xử 14 người có đạo ở Nghệ An, 20 người ở Phú Yên hoặc đạo “Hà Mòn" ở Tây Nguyên. Những người có nhận thức công bằng, khách quan thì không khó để bác bỏ những lập luận và chứng cớ nói trên. Pháp luật của bất cứ quốc gia nào cũng phải đồng thời bảo vệ nhân quyền và chế độ xã hội. Trong điều kiện hiện nay, một số quốc gia luôn phải đối diện với các lực  lượng chính trị đối lập với sự trợ giúp của các lực lượng chính trị cường quyền ở nước ngoài nhằm thay đổi chính phủ hiện hữu. Cái gọi là hoạt động “ôn hòa”, “bất bạo động” không nói lên bản chất chính trị, bất hợp pháp của những kẻ mưu toan lật đổ chế độ xã hội. Bởi vậy, Luật Hình sự Việt Nam có một số điều, như Điều 88, "Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”; Điều 258, “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước…”; Điều 79, “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”…  nhằm ngăn cấm những hoạt động làm tổn hại đến chế độ xã hội là điều đương nhiên. Thử hỏi ngay luật pháp của những nước đang bao che, nuôi dưỡng, dung túng cho những hành vi chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam xem có những điều khoản nhằm ngăn cấm những hoạt động làm tổn hại đến chế độ xã hội của họ hay không?


Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Chi tiết nhỏ, ý nghĩa lớn
          Để đảm bảo tuyệt đối an toàn cho chuyến thăm Việt Nam của Tổng  thống Mỹ tháng 5 năm 2016 vừa qua, phía Mỹ đặt ra yêu cầu thời điểm Tổng thống đến, tất cả các căn hộ có cửa sổ của tòa nhà hướng về Trung tâm hội nghị quốc gia đều phải đóng cửa. Phía Việt Nam đã trả lời thẳng thắn: “… đây là nhà của nhân dân nên người dân có quyền mở hay đóng cửa, Việt Nam không ép buộc người dân phải đóng cửa”. Chi tiết tuy nhỏ nhưng lại gợi lên nhiều điều phải suy nghĩ về vấn đề nhân quyền!
          Thứ nhất, nước Mỹ vốn luôn tự cho mình là quốc gia có nền dân chủ, nhân quyền hơn các nước khác! Thế mà lại đặt ra yêu cầu chẳng có chút nào gọi là nhân quyền cả. Phải chăng người dân có quyền đóng cửa hay mở cửa ngôi nhà của mình lại không thuộc phạm trù nhân quyền?
           Thứ hai, nếu ở nước Mỹ, việc chính quyền yêu cầu bắt buộc người dân đóng, mở cửa (vì mục đích của chính quyền) là chuyện bình thường thì thử hỏi nước Mỹ có nhân quyền không?
           Thứ ba, việc yêu cầu bắt buộc người dân đóng cửa vì mục đích an ninh nào đó, chỉ được chính quyền Mỹ yêu cầu thực hiện ở các nước khác mà không thực hiện ở Mỹ. Đó có phải là sự vi phạm nhân quyền hay không?
          Câu trả lời nêu trên của các nhà chức trách Việt Nam đối với yêu cầu từ phía Mỹ trong công tác an ninh cho chuyến thăm của Tổng thống Obama đến Việt Nam tháng 5 vừa qua rất thẳng thắn, rất thật, chân thành nhưng rất kiên quyết đúng như những gì vẫn diễn ra ở Việt Nam. Nhân quyền- quyền của con người ở Việt Nam được quan tâm, được tôn trọng từ những việc nhỏ như vậy đó.

          Vậy mà! năm nào Mỹ cũng tự cho mình quyền đi phán xét, đánh giá nhân quyền của các nước khác trong đó có Việt Nam. Thật nực cười và trớ trêu thay!